CUỘC ĐỜI VÀ SỐ PHẬN
TS. Dương Xuân Thao
Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Nghệ An

LTG: Cách đây gần 10 năm, tác giả đã viết bài “Đời người” đăng trên kỉ yếu 50 năm thành lập trường. Cũng như bài viết này, nội như mang tính tản bút, các vấn đề trình bày không theo một logic nhất định mà như một dòng chảy của tư duy, những tâm tư, suy nghĩ trong cuộc sống. Nhân dịp kỉ niệm 60 năm thành lập trường, tác giả tiếp tục muốn chia sẻ những suy nghĩ này với bạn đọc. Đây là những quan điểm riêng của cá nhân với mong muốn góp tiếng nói chung để mọi người cùng trao đổi và xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Tác giả không có một mục đích nào khác ngoài mong muốn đó. Rất mong sự góp ý và chia sẻ của bạn đọc.
Nếu con người có số phận thì thái độ sống quyết định số phận cuộc đời, ít có ai có thái độ sống tốt mà cuộc đời tồi cả. Nhiều tôn giáo cũng như tâm niệm của bộ phận lớn nhân dân ta cho rằng mỗi con người đều có một số phận riêng, họ cho rằng quan điểm ngẫu nhiên trong triết học Mác chính là số phận[1]. Quan điểm này nhiều lúc làm cho mỗi chúng ta không cố gắng vươn lên để thay đổi bản thân mà chấp nhận sống an bài với mọi sự việc xảy ra xung quanh mình, đúng như Mác đã từng nói: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.
Theo chiều hướng khác, đạo Phật phủ nhận sự chấp nhận số phận mà cho rằng tất cả đều do nhân quả mang lại. Mỗi người nếu tu nhân tích đức sống tốt, làm nhiều việc thiện ở cõi đời thì kiếp sau sẽ được hóa kiếp tốt, ngược lại, sẽ bị đày xuống địa ngục, kiếp sau sẽ không được làm người. Đó là cách đạo Phật hướng con người đến một cuộc sống từ bi hỉ xả, bỏ tham sân si và thủ tiêu đấu tranh. Triết học Mác - Lênin cũng có những quan điểm tương đồng với giáo lý của đạo Phật thể hiện qua cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả - nguyên nhân nào thì kết quả đó, nhưng quan điểm này chỉ đề cập ở thế giới vật chất của triết lý duy vật biện chứng. Mặc dù trong chừng mực nào đó, khi không sử dụng thành công các biện pháp về đạo đức, tình cảm để thỏa thuận thì cũng phải đấu tranh, nhưng tốt nhất là vẫn nên hạn chế nó nhằm không gây hậu quả đáng tiếc cho cả hai phía. Mác nói: Hạnh phúc là đấu tranh, là quy luật phủ định, đấu tranh phá bỏ và đấu tranh góp ý kế thừa để phát triển. Tôn giáo ru ngủ đấu tranh là thuốc phiện của nhân dân nhưng nó cũng góp phần giữ xã hội bớt hỗn loạn, xây dựng tình người, nhất là khi cuộc đấu tranh đã thành công, và cuộc sống ngày càng phát triển, xã hội có phần phức tạp. Trong lịch sử hình thành pháp luật, có hai quan điểm quản lý và điều chỉnh xã hội, đó là pháp trị và đức trị. Quan điểm đức trị là một trong những giáo lí cơ bản của Khổng Tử, nguyên tắc của nó là dùng các quy phạm đạo đức để điều chỉnh xã hội bằng cách sử dụng dư luận xã hội để buộc mỗi người phải tuân thủ các quy chuẩn đạo đức xã hội, chẳng hạn như các quan điểm “tam cương ngũ thường”, “tam tòng tứ đức”: “Tam cương” là ba mối quan hệ quan trọng nhất như dây cương trong thời phong kiến gồm quan hệ giữa vua - tôi, cha - con và vợ - chồng, “ngũ thường” là nhân – nghĩa – lễ - trí – tín (các nhà nho ngày xưa hay tự hào con tôi học được năm ba chữ chính là “tam cương ngũ thường”); “Tam tòng” là tại gia tòng phụ, phụ tử tòng phu, phu tử tòng tử (khi ở gia đình thì theo cha, khi lấy chồng theo chồng, khi chồng mất thì theo con), “tứ đức” là công – dung – ngôn - hạnh... Pháp trị là việc điều chỉnh quản lý xã hội bằng pháp luật, dùng các quy phạm pháp luật để thực hiện pháp luật. Quá trình thực hiện và trong quá trình phát triển của xã hội có những quy phạm đạo đức được phát triển thành quy phạm pháp luật và ngược lại, có những quy định pháp luật ở thời điểm nào đó không còn cần thiết thì có thể đưa ra khỏi quy phạm pháp luật và nó có thể trở thành quy phạm đạo đức. Trong các xã hội, quá khứ cũng như hiện tại, thông thường Nhà nước kết hợp giữa đức trị và pháp trị một cách phù hợp để quản lý và điều chỉnh xã hội, đây cũng là phương pháp quản lý xã hội có ưu thế nhất hiện nay. Kết hợp quan điểm của đạo Phật, một số tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với những quan sát thực tế, theo chúng tôi, nếu tạm coi con người có số phận thì chúng ta có thể thay đổi được số phận theo logic: Thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành động, thay đổi thói quen, thay đổi tính cách, thay đổi thái độ, thay đổi số phận, thay đổi cuộc đời”. Có hai xu hướng thay đổi: xấu thành tốt và tốt thành xấu. Thay đổi thái độ khó vì nó thuộc bản chất, năng lực của từng cá nhân. Có người thay đổi không khó, có người khó, có người rất khó, thậm chí có người không thay đổi được mặc dù rất nhiều người muốn thay đổi. Vợ chồng cãi nhau không muốn ra toà thì phải thay đổi thái độ.
Con người nên thay đổi để tốt hơn ngay cả khi họ sinh ra đã có thái độ sống tốt, có ý chí nghị lực bền bỉ. Vì lẽ dĩ nhiên đó, những người chưa có thái độ sống tốt phải luôn nghĩ về những đúng sai của bản thân, đúng thì phát huy, sai thì sửa chữa. Việc thay đổi có hai nhân tố ảnh hưởng là khách quan và chủ quan. Một hạt giống tốt nếu gieo trên một mảnh đất cằn thì không phát triển được. Một số người thường tự hào mình là người cá tính. Nhưng cá tính là tính riêng khác biệt, người như vậy sẽ sống một mình, không người thân, không bạn hữu. Cá biệt, lập dị còn nguy hiểm hơn. Trong từ “cá biệt”, cá là cá nhân, biệt là riêng biệt; trong từ “lập dị”, lập là biệt lập, dị là dị thường. Người cá biệt, lập dị thường không hòa mình vào tập thể, tự cho mình vĩ đại, cao siêu hơn tất cả nên luôn lấy mình làm chuẩn, nói gì làm gì cũng đúng và mọi người xung quanh đều là cỏ rác, ai cũng có cái xấu phải sửa. Họ quên mất rằng trong cuộc sống, làm nhiều thì sai nhiều, thật đáng trách nếu không làm mà chỉ đứng quan sát chê bai người khác theo kiểu “một người làm chín người rình”, “người làm chưa về người chê đã đến”. Thêm một điều nữa, con người không thể thay đổi được những sai lầm trong quá khứ, nhưng có thể thay đổi được hiện tại và tương lai. Vậy nên mỗi chúng ta không nên chọn cái tốt, cái khác của bản thân làm chuẩn và cũng nên cảm thông cho khuyết điểm của những người xung quanh. Một người có hư hỏng xấu xa đến đâu vẫn có nhiều cái tốt mà ta không bằng họ, phải học họ để hoàn thiện mình. Càng hiểu biết, chúng ta càng phải học, phải đọc, phải lắng nghe, thậm chí tha thứ và cảm ơn những người ghen ghét, không ghi nhận mình bởi nó tạo ra động lực để soi lại, thay đổi nhằm hoàn thiện bản thân.
Cuộc đời của một con người có ba chiếc vé: vé quá khứ, vé hiện tại và vé tương lai. Vé quá khứ chúng ta đã dùng, vé tương lai có thể được dùng rất tốt nhưng cũng có thể không bao giờ được dùng nữa, chúng ta hãy sử dụng vé hiện tại của cuộc đời một cách tốt nhất. Đây có thể xem là một triết lý sống có giá trị. Với tấm vé hiện tại cuộc đời, mỗi người phải mạnh dạn lựa chọn và bước vào những cuộc hành trình mới phù hợp. Hiểu đại ý, nghĩa là trước hết phải xác định nguồn lực của bản thân, sau đó định vị mình ở hiện tại và tương lai. Nguồn lực nào tương ứng mục tiêu đó, nếu không nắm bắt được nguồn lực sẽ đánh mất tất cả cơ hội hoặc sẽ hết hi vọng, tiêu cực vì mục tiêu không phù hợp nên không đạt được, ngược lại nếu đạt mục đích cao hơn nguồn lực, sẽ thất bại và làm giảm ý chí. Quá trình học tập, rèn luyện, làm việc sẽ tạo ra nguồn lực mới. Khi nguồn lực thay đổi thì xác định lại mục tiêu, mục tiêu mới có thể cao hoặc thấp hơn mục tiêu ban đầu đã đặt ra. Đây chính là nguyên lí lượng đổi chất đổi của triết học Mác – Lênin.
Cuộc đời con người ta nhiều khi biết đủ là đủ, khi đã cố gắng mà không làm được, hãy trân trọng những gì đang có, nếu không sẽ hủy hoại số phận và cuộc đời mình. Mỗi ngày đều phàn nàn oán hận, soi xét chỉ trích, sống trong thách thức và nghi kị sẽ biến cuộc đời sẽ thành địa ngục. Giá trị của nhiều đồ vật và thậm chí của một con người tùy vào vị trí đặt nó. Không ai có quyền quyết định và không quyết định được cuộc đời của bạn. Một ông chủ liên tiếp gặp khó khăn cũng không dễ dàng buông xuôi, nhưng nhiều khi người công nhân gặp việc không thuận liền muốn bỏ việc. Cũng giống như vợ chồng rất khó chia tay nhưng tình nhân lại rất dễ dàng. Vĩ nhân là những người có khả năng chịu đựng vô cùng lớn, người bình thường tìm cách tránh va chạm và tìm nơi nương tựa, không dám đối đầu với khó khăn và thách thức. Một người không biết bơi dù thay đổi bể bơi cũng vậy, rất khó đánh thức một người giả vờ ngủ. Một người không làm được việc muốn thay đổi là rất khó, cho nên khi đã quyết định thay đổi thì con người phải lựa chọn sự thay đổi phù hợp với những khả năng và điều kiện của bản thân mình.
Tập thể là một yếu tố quan trọng tác động đến quá trình thay đổi của mỗi con người. Nó thể hiện trong triết lý Mác - Lênin: Cái riêng quyết định cái chung, cái chung nằm trong cái riêng, cái riêng rộng hơn cái chung, phong phú hơn cái chung nhưng cái chung lại sâu sắc, đại diện hơn cái riêng. Để có một cá nhân tốt phải xây dựng tập thể tốt bởi nếu tập thể phát triển thì cái riêng mong muốn sẽ đạt được, vì cái riêng phải xây dựng cái chung phát triển. Trong tập thể, các thành viên nên cảm thông cho những sai sót và hỗ trợ nhau cùng làm tốt nhiệm vụ. Thực tế, bản chất cố hữu của mỗi con người không dễ dàng thay đổi ở mọi lúc mọi nơi. Người có tốt đến đâu, có điềm đạm đến đâu cũng có lúc nổi nóng và có những ứng xử không phù hợp. Thường những người làm nhiều việc, lo lắng nhiều việc, khi công việc bê trễ thì thường nóng nảy cáu gắt. Nhưng họ không để lại sự ấm ức hay thù hằn trong lòng mà họ luôn xả tâm trong một thời gian ngắn. Những người thành đạt thường có tâm - tầm - tài (thực ra đã có tầm là có tài). Tâm thuộc thái độ, người có tầm mà không có tâm rất nguy hiểm, người có tâm không có tầm vẫn giúp ích cho đời dù rất nhỏ, nhưng cần giúp đỡ, hướng dẫn, động viên họ và cho phép họ được nhầm lẫn. Họ ít làm hại và nói xấu người khác, do đó dĩ nhiên cần có sự thông cảm với họ.
Làm đúng bây giờ có những lúc rất khó, nhiều khi phải nhắm mắt bẻ một chữ đồng làm đôi. Làm một người lãnh đạo càng khó hơn, dám làm dám chịu dám đột phá nhưng phía trên đầu là một rừng văn bản, có nhiều văn bản chồng chéo trái ngược nhau, đột phá thì phải làm khác văn bản mới gọi là đột phá. Có lúc việc làm tưởng đúng lại sai, tưởng sai lại đúng, hôm nay đúng mai sai, có những việc muốn làm không được làm, không muốn làm phải làm, đau khổ nhất là nghĩ một đường phải nói và làm một nẻo. Nhiều chính sách thì ở trên trời mà cuộc đời thì ở dưới đất, nghe trời thì đất loạn, nghe đất thì trời xử trảm, đường nào cũng chết, thôi đành phải nghe đất để sống thêm vài ngày trước khi trời xử trảm. Sống với đất mà phải làm theo những ý trời không đúng nên nhiều khi rất nguy hiểm. Nếu ý trời mà hợp với lòng dân thì rất dễ, ý trời khác lòng dân thì đất loạn. Vậy nên đã có trường hợp việc làm dân chết nhưng đúng quy trình trên trời rơi xuống vẫn không xử lý kỉ luật được cán bộ, cho nên đột phá khó. Thực ra về nguyên tắc cái gì đúng với thực tế là đúng, không nên quan điểm nói và làm theo văn bản khi văn bản đó sai với thực tiễn mà phải dừng lại để chỉnh sửa phù hợp với thực tiễn mới thực hiện. Mục đích, chủ trương mà chúng ta đặt ra cho hoạt động thực tiễn, không thể rút ra từ nguyện vọng chủ quan mà phải rút ra từ hiện thực khách quan, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn nhất định của lịch sử. Mục đích, chủ trương mà chúng ta đề ra phải bắt nguồn từ thế giới khách quan mà ý thức của chúng ta đã phản ánh đúng đắn. Chỉ có những mục đích như thế mới có khả năng được thực hiện trong hiện thực. Nếu làm ngược lại thì mục đích, chủ trương sẽ làm hỗn loạn xã hội. Trong thực tế, có nhiều cán bộ sợ sai, chỉ muốn an phận, không làm, không dám làm, không muốn làm, không dám thay đổi; người tài không dám mạo hiểm, không dám vượt rào. Đây là nguyên nhân kìm hãm sự cống hiến của những người tài. Họ sẽ không có cơ hội cống hiến. Khó khăn là hòn đá nằm dưới chân người tài. Một người lãnh đạo giỏi phải bình tĩnh và quyết đoán trong công việc, nhất là những việc có nhiều ý kiến khác nhau, biết lắng nghe ý kiến nhưng phải giữ quan điểm của mình, khi đã tập hợp được các ý kiến và tin rằng quyết định cuối cùng của mình là đúng, nếu không làm được thì cuộc họp sẽ hỗn loạn, cá mè một lứa, không giải quyết được vấn đề gì. Tuy nhiên muốn quyết đoán thì người lãnh đạo phải am hiểu, nắm chắc quy định của pháp luật và diễn biến của thực tiễn, nếu cứ quyết định bừa là người lãnh đạo độc đoán, nội bộ sẽ mất ổn định và mọi thứ đều trở nên hết sức phức tạp.
Hiện nay trong các trường học, khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” đã bị xóa bỏ, thay vào đó là các biển như “Học để biết để làm người”, “Học để ngày mai lập nghiệp”, “Học để chung sống”,… Nhưng muốn đạt được những mục tiêu trên trước hết phải học lễ, các giảng viên vẫn phải là những kĩ sư của tâm hồn, tức là những người phải tạo hồn và sửa hồn cho trẻ. Một đứa trẻ muốn có hồn phải có ba yếu tố: cha mẹ có hồn, cô giáo có hồn và xã hội có hồn, phải cho con biết khổ, biết nỗi khổ để nó có tí hồn. Một doanh nhân giàu bậc nhất của nước Nhật, chỉ có một đứa con trai duy nhất nhưng ông đã đưa đứa con trai này sang Việt Nam sống chung với dãy trọ của công nhân Việt Nam, không có điều hòa, không có máy giặt. Một lần đứa con xin ông mua cho một cái máy giặt, ông đã bay từ Nhật sang để cùng con giặt áo quần. Đến khi đứa con biết tự giặt thì ông trở về Nhật. Vậy nên nhà giáo là những người tìm đường và dẫn học sinh, sinh viên đi theo con đường đó. Đức Phật đi tìm do đâu khổ đau, thứ nhất thừa nhận khổ đau là có thật, phải tìm cách hóa giải nó, phớt lờ khổ đau là liều mạng, cường điệu khổ đau là không nên. Cao nhất của hạnh phúc là niết bàn, là người làm chủ mọi thứ. Khổ đau, hạnh phúc… không làm họ xáo trộn.
Nếu ai lí luận rằng hạnh phúc phải có mặt từ khổ đau thì người đó sai lầm. Bởi khổ đau không thể tạo ra hạnh phúc. Khổ đau có thể được sử dụng như một công cụ để ta vươn lên tìm thấy hạnh phúc. Nếu nói rằng trong khổ đau có hạnh phúc thì sai lầm, trên thực tế, trạng thái hạnh phúc chỉ có mặt khi dòng khổ đau được chuyển hóa. Đừng chụp lại những hình ảnh khổ đau trong quá khứ, càng chụp lại thì những hình ảnh đó càng loang lổ nhiều thêm trên bề mặt tâm thức, Như vậy là ta đang biến khổ đau thành cái gì đó thường còn bất biến. Ta càng ghi nhận hình ảnh khổ đau lâu dài bao nhiêu thì sai lầm càng chồng chất thêm bấy nhiêu. Do vậy cần loại bỏ chúng ra khỏi tâm thức của mình càng nhanh càng tốt. Hãy tận dụng những cơ hội để tháo dỡ oan trái một cách khôn ngoan. Được vậy, những biến cố khổ đau dù có xảy ra cũng không làm ta lao đao thêm nữa. Lúc đó, ta là một chiến sĩ ca khúc khải hoàn, không có đối thủ, không có kẻ thắng người bại mà chỉ có sự an lạc hạnh phúc.
Tóm lại, đời người chỉ sống có một lần và chỉ là chớp nhoáng so với sự tồn tại vĩnh hằng vô cùng vô tận của thời gian và không gian. Giá trị của một con người không phải là những gì mình có mà là những gì mình đang sống. Sự buông xả, tha thứ giống như ta xé một mảnh nợ ân oán giữa ta và người, chỉ có tình thương, lòng từ bi, sự tha thứ mới có thể chấm dứt hận thù một cách vĩnh viễn./.
[1] Cũng có quan điểm cho rằng không có khái niệm ngẫu nhiên. Mọi sự việc ngẫu nhiên suy cho cùng đều có nguyên nhân của nó. Chẳng hạn những cơn mưa bất chợt, các sự kiện bất ngờ mà chúng ta không lường, dự đoán trước được thực ra đều có nguyên nhân sâu xa của nó.