Mô hình sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ rác thải giúp giảm ô nhiễm, cải tạo đất, nâng cao năng suất, giảm chi phí và mở ra hướng canh tác bền vững.
Trong bối cảnh nông nghiệp chuyển dần sang hướng xanh và tuần hoàn, việc tận dụng rác thải để sản xuất phân bón hữu cơ sinh học đang được nhiều doanh nghiệp triển khai. Tại Công ty Nam Long Xanh (Đồng Tháp), quy trình xử lý rác thải được tổ chức theo hướng khép kín, tạo ra nhiều dòng sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp như phân hữu cơ vi sinh, nhiên liệu (xăng).
Ông Võ Hoài Phong, Giám đốc Công ty cho biết, sản phẩm chủ lực là phân hữu cơ viên nén được sản xuất từ rác thải sau khi xử lý và ép viên giúp cung cấp dinh dưỡng ổn định cho cây trồng. Song song đó là các chế phẩm vi sinh có chức năng phân giải chất hữu cơ thành mùn trước khi đưa vào sản xuất.
Đáng chú ý, dòng Bio-soil - dung dịch chiết xuất từ gỗ kết hợp vi sinh giúp tăng tốc quá trình phân giải và nâng cao khả năng hấp thụ dinh dưỡng. Công ty cũng phát triển các sản phẩm chuyên dụng xử lý phèn sắt, phèn nhôm và cải tạo đất nhiễm mặn, phù hợp với điều kiện sản xuất tại nhiều địa phương vùng ĐBSCL.
Ông Võ Hoài Phong bên cỗ máy biến rác thải thành phân bón hữu cơ sinh học của mình.
“Chúng tôi hướng tới mô hình nông nghiệp công nghệ cao, sử dụng hoàn toàn sản phẩm hữu cơ sinh học, không phụ thuộc vào phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học”, ông Phong cho biết.
Một trong những vấn đề được quan tâm là nguy cơ tồn dư kim loại nặng trong sản phẩm từ rác thải. Theo ông Phong, toàn bộ quy trình sản xuất đều được kiểm soát chặt chẽ bằng vi sinh nhằm loại bỏ các thành phần độc hại. Mỗi lô sản phẩm trước khi xuất xưởng đều được kiểm định tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng 3 (QUATEST 3).
Kết quả kiểm nghiệm cho thấy các chỉ số kim loại nặng như Cadmium (Cd), Arsen (As), Thủy ngân (Hg) và vi khuẩn gây hại đều ở mức an toàn. Các sản phẩm dạng dung dịch cũng được xét nghiệm định kỳ về hàm lượng vi sinh để bảo đảm hiệu quả sử dụng.
Thực tế sản xuất cho thấy hiệu quả rõ rệt khi áp dụng phân bón hữu cơ sinh học. Ông Đỗ Hoàng Dũng, nông dân tại ấp Hòa Phú, xã Long Bình, tỉnh Đồng Tháp cho biết sau khi chuyển sang sử dụng sản phẩm của Công ty Nam Long Xanh, năng suất và chất lượng lúa đều được cải thiện.
Ở vụ đông xuân 2025 - 2026, ông Dũng thu hoạch 2.000m² lúa với sản lượng 2,6 tấn (tương đương 13 tấn/ha, cao hơn 3 tấn so với lúa ngoài mô hình), giá bán 6.500 đồng/kg (cao hơn lúa thường 300 - 500 đồng/kg), lãi gần 10 triệu đồng. Đây là mức lợi nhuận rất cao trong bối cảnh giá lúa đang ở mức thấp, nhiều hộ sản xuất chỉ đạt lợi nhuận thấp hoặc hòa vốn.
Ông Đỗ Hoàng Dũng kiên trì sử dụng phân hữu cơ vi sinh trong canh tác lúa nhiều vụ phấn khởi bên ruộng năng suất cao.
“Tôi áp dụng quy trình canh tác và sử dụng phân bón của Nam Long Xanh đến nay đã 5 vụ. Lúa nhiều hạt, hạt nặng. Cây lúa lúc nào cũng cao hơn các ruộng lân cận. Gạo dẻo, ngọt hơn và được bao tiêu toàn bộ ra nên tôi rất yên tâm”, ông Dũng chia sẻ.
Ngoài hiệu quả về năng suất, việc sử dụng phân hữu cơ còn giúp cải tạo đất rõ rệt. Đất tơi xốp hơn, giảm phèn và không còn tình trạng chai cứng như khi sử dụng phân hóa học trong thời gian dài.
Chi phí sản xuất cũng giảm đáng kể. Theo ông Dũng, khi sử dụng sản phẩm sinh học, gần như không cần phun thuốc bảo vệ thực vật, trong khi trước đây phải phun từ 4 - 5 lần mỗi vụ. Chi phí phân bón khoảng 1 triệu đồng cho 4 - 5 bao mỗi công/vụ với quy trình bón được chia thành nhiều giai đoạn phù hợp với sinh trưởng của cây lúa.
Sau nhiều vụ áp dụng, mô hình này đã được nhiều hộ dân xung quanh học tập, không chỉ trên cây lúa mà còn mở rộng sang các loại rau màu và cây ăn trái.
Hiện nay, sản phẩm của Công ty Nam Long Xanh đang được triển khai thử nghiệm (không thương mại) tại nhiều nông hộ ở các địa phương tại Đồng Tháp như Cái Bè, Cai Lậy và khu vực Gò Công. Việc kết hợp xử lý rác thải với sản xuất phân bón hữu cơ không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần giảm ô nhiễm môi trường, hướng tới nền nông nghiệp tuần hoàn.
Từ thực tiễn cho thấy mô hình này đang mở ra hướng đi phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp xanh, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu tại ĐBSCL.
Theo báo Nông nghiệp và Môi trường