Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An

(Assessing the factors influencing the implementation of internal audits in enterprises in Nghe An province)

Cùng với yêu cầu ngày càng cao của hệ thống quản trị tài chính trong doanh nghiệp và sự thúc đẩy từ hành lang pháp lý, kiểm toán nói chung và kiểm toán nội bộ nói riêng ngày càng thể hiện vai trò quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả và minh bạch hóa hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp đi đúng hướng, đạt được mục tiêu chung. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện và phát huy được vai trò của kiểm toán nội bộ. Để thúc đẩy hoạt động kiểm toán nội bộ phát triển hơn nữa, trước hết cần đánh giá được những nhân tố chủ yếu tác động đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp.

Từ khóa: Kiểm toán nội bộ, thực hiện kiểm toán nội bộ tại Nghệ An.

With the increasing demands of financial management systems in businesses and the impetus from the legal framework, auditing in general and internal auditing in particular are playing an increasingly important role in ensuring the efficiency and transparency of business operations, helping businesses stay on track and achieve common goals. However, not all businesses implement and leverage the role of internal auditing. To further promote the development of internal auditing, it is first necessary to assess the main factors affecting the implementation of internal auditing in businesses.

Keywords: Internal audit, conducting internal audits in Nghe An.

 

1. Mở đầu

  Ngày 01/4/2021 là thời điểm bắt đầu triển khai chức năng kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập có liên quan theo quy định tại Nghị định 05/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ. Tiếp theo việc triển khai Nghị định 05 của Chính phủ là sự ra đời của nhiều văn bản pháp luật mang tính đồng bộ nhằm đưa ra khung quy định để thực hiện và thúc đẩy hoạt động kiểm toán nội bộ, thiết lập cơ sở để dánh giá hoạt động kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, để triển khai thực hiện hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp, vấn đề không chỉ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của hệ thống pháp lý mà còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thực tế tại doanh nghiệp như: điều kiện cơ sở vật chất, trình độ nhân sự, nhận thức về vai trò của kiểm toán nội bộ,...

  Tại tỉnh Nghệ An, số doanh nghiệp thực hiện kiểm toán nội bộ chưa nhiều và hầu như đều mới bắt đầu triển khai thực hiện từ sau khi Nghị định 05/2019/NĐ-CP có hiệu lực. Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp thuộc diện bắt buộc phải thực hiện theo Nghị định này cũng không nhiều, các doanh nghiệp thuộc diện không bắt buộc thì hầu như chưa thực hiện. Hoạt động kiểm toán nội bộ chủ yếu phát triển ở một số doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như VSIP Nghệ An, khu công nghiệp Nam Cấm thậm chí ngay cả trước khi có Nghị định 05/2019/NĐ-CP. Điều đó cho thấy vấn đề không chỉ là lợi ích và chi phí. Việc thực hiện kiểm toán nội bộ có thể còn gặp một số trở ngại khác khiến cho doanh nghiệp chưa phát huy được chức năng vai trò của kiểm toán nội bộ vào hệ thống kiểm soát của mình.

2. Nhận định về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp

Để đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng, cần tiếp cận từ các góc độ khoa học.

Trước hết, hầu như mọi hành vi của doanh nghiệp nói chung đều xuất phát từ lợi ích, đặc biệt là lợi ích thu về phải lớn hơn chi phí bỏ ra. Trên cơ sở nghiên cứu về Lý thuyết Nhận thức Xã hội (Social Cognitive Theory) của Holt và Brown (1931) cho rằng hành vi của một cá nhân bị ảnh hưởng đáng kể bởi quá trình so sánh giữa lợi ích nhận được và chi phí bỏ ra. Từ đó có thể suy rộng ra, vậy các doanh nghiệp có thực hiện kiểm toán nội bộ vì chính lợi ích của họ? Hay nói chính xác hơn, liệu các doanh nghiệp có muốn thực hiện và thực hiện tốt hoạt động kiểm toán nội bộ hay không nếu nó không đem lại lợi ích cho chính họ? Và nếu kiểm toán nội bộ thực sự đem lại lợi ích đáng kể thì rõ ràng việc họ không tích cực trong thực hiện kiểm toán nội bộ có thể là do chi phí bỏ ra cho hoạt động này lớn hơn lợi ích mà họ thu được, hoặc có thể là do họ chưa nhận thức được hết các lợi ích mà kiểm toán nội bộ đem lại.

Về lợi ích của kiểm toán nội bộ: Trong cuốn Internal Audit Practice from A to Z của Nzechukwu (2016), lợi ích của kiểm toán nội bộ được đề cập một cách cụ thể trước hết thông qua các chức năng của nó. Trong đó, chức năng chính ban đầu là giám sát hoạt động kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp. Với việc phân tích các vụ bê bối tài chính tiêu biểu ở các doanh nghiệp, tập đoàn trong thời kỳ khủng hoảng tài chính có liên quan đến hiệu quả của các chuẩn mực kế toán và sự thao túng báo cáo tài chính cho thấy “các doanh nghiệp cần phải tăng cường quản lý và kiểm soát tài chính” và “Song song, sau khủng hoảng tài chính, quản lý rủi ro trở thành ưu tiên hàng đầu”. Kiểm toán nội bộ đã chuyển từ cách tiếp cận tuân thủ sang dựa trên rủi ro. Kiểm toán nội bộ sẽ giúp tổ chức hoàn thành các mục tiêu của mình bằng cách đưa ra các kiến nghị một cách có hệ thống, có kỷ luật, nhằm đánh giá và cải thiện hiệu quả của quá trình quản lý, kiểm soát và quản trị rủi ro. Có thể nhận thấy, kiểm toán nội bộ về bản chất chính là thực hiện các chức năng liên quan đến việc đánh giá hoạt động quản trị rủi ro của tổ chức. Và nó hoạt động như một dịch vụ khách quan, độc lập bên trong tổ chức.

Tác giả Petraþcu & Tieanu (2014) cho rằng: Việc phòng ngừa và phát hiện gian lận cực kỳ thiết yếu trong hoạt động quản trị rủi ro của các doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ giữ vai trò không thể thiếu đối với hoạt động này. Nó không chỉ đảm bảo sự hiệu quả của hoạt động quản trị rủi ro mà còn giúp cắt giảm chi phí, tối đa hóa lợi nhuận và giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu trung - dài hạn và nâng cao giá trị gia tăng trong tương lai.

Trong thực tế, ngay cả khi lợi ích của việc thực hiện kiểm toán nội bộ lớn hơn chi phí phải bỏ ra thì hoạt động kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp vẫn có thể chưa được thực hiện hoặc thực hiện mà không có hiệu quả. Điều này có thể xuất phát từ các nguồn lực kiểm toán của từng doanh nghiệp.

Theo Zaman & Sarens (2013): Để có thể triển khai kiểm toán nội bộ trong tổ chức, các nhân viên thực hiện vai trò như kiểm toán viên nội bộ phải có kiến thức sâu rộng về kiểm toán nội bộ. Đặc biệt là các kiến thức về các quy trình và hoạt động kinh doanh, kiến thức về các vấn đề rủi ro và kiểm soát, kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến kế toán và kiểm toán. Tác giả Abidin (2017) cũng có cùng nhận định như sau: điều quan trọng là kiểm toán viên nội bộ phải có kinh nghiệm và được trang bị đầy đủ kiến thức cụ thể và hiểu biết sâu sắc về các quy trình kinh doanh, quản lý rủi ro và hoạt động kiểm soát để họ có thể thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả .

Ngoài yếu tố con người, tác giả Abidin còn đề cập đến các nguồn lực của tổ chức: Để kiểm toán nội bộ thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình, các nguồn lực cho hoạt động này cần phải được đảm bảo. Nzechukwu (2016) cũng cho rằng, để đảm bảo cho việc lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá và kiểm toán của kiểm toán nội bộ cần có các nguồn lực bao gồm: văn bản giải thích rõ các nguyên tắc của kiểm toán hệ thống quản lý, hướng dẫn quản lý các chương trình kiểm toán, hướng dẫn về thực hiện kiểm toán nội bộ và năng lực của kiểm toán viên. Khi các nguồn lực được cung cấp cho hoạt động kiểm toán nội bộ một các dồi dào, nó ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của kiểm toán nội bộ. Theo quan điểm tương tự, Zaman & Sarens (2013) cho thấy bộ phận kiểm toán nội bộ có quy mô lớn với nhiều nhân viên kiểm toán nội bộ sẽ thực hiện nhiều nhiệm vụ kiểm toán hơn.

  3. Quá trình và kết quả nghiên cứu

Sau khi phân tích tổng quan những nghiên cứu về các nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại doanh nghiệp, tác giả đã đưa ra mô hình nghiên cứu gồm các giả thuyết sau:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

Với các giả thuyết như sau:

Giả thuyết H1: Nhận thức về lợi ích, tác động cùng chiều đến việc thực hiện KTNB

Giả thuyết H2: Nhận thức về chi phí, tác động ngược chiều đến việc thực hiện KTNB

Giả thuyết H3: Năng lực đội ngũ KTNB tác động cùng chiều đến việc thực hiện KTNB

Giả thuyết H4: Các nguồn lực hỗ trợ tác động cùng chiều đến việc thực hiện KTNB

Giả thuyết H5: Bối cảnh kinh tế - xã hội tác động cùng chiều đến việc thực hiện KTNB

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện không lặp lại: Thực hiện khảo sát 250 doanh nghiệp có thực hiện kiểm toán nội bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Đối với dữ liệu thứ cấp: Chọn lọc số liệu trên các báo cáo, văn kiện, sách báo,… sao chép hoặc trích dẫn. Đối với dữ liệu sơ cấp: Sau khi điều tra thu thập số liệu qua phiếu điều tra, Số liệu được thu thập sẽ được nhập vào máy tính và được xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft excel. Từ số liệu được tổng hợp và xử lý trong Excel, nghiên cứu sử dụng tiếp phần mềm SPSS để thống kê mô tả, kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích EFA và phân tích hồi quy, đưa ra kết quả nghiên cứu.

Sau khi tiến hành khảo sát hơn 250 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, với đối tượng được khảo sát là kế toán, kế toán trưởng, kiểm soát viên trong các doanh nghiệp, đã cho kết quả khá tương thích với các giả thuyết mà tác giả đã nhận định.

Trong số các doanh nghiệp tham gia khảo sát, có trên 70% doanh nghiệp không có bộ phận kiểm toán nội bộ. Số còn lại phần lớn là thực hiện sau ngày 01 tháng 4 năm 2021, trong đó nhân sự cho bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ từ 1 đến 3 người. Số nhân sự thực hiện kiểm toán nội bộ ở các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt chất lượng tương đối cao, trong đó có trình độ sau đại học, có trình độ chuyên ngành kiểm toán và được đào tạo thường xuyên về hoạt động kiểm toán với thu nhập bình quân khá cao. Tuy nhiên, phần lớn nhân sự ở các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp, kể cả các doanh nghiệp cổ phần Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn đều chưa tập trung đầu tư cho đội ngũ kiểm toán nội bộ. Hoạt động kiểm toán nội bộ ở các doanh nghiệp này cũng thu hẹp cả về tần suất thực hiện, quy mô công việc cũng như phạm vi, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động.

Trên cơ sở các yếu tố ảnh hưởng mà tác giả nêu ra, kết quả khảo sát cũng cho thấy doanh nghiệp chưa đánh giá hết những lợi ích mà kiểm toán nội bộ đem lại, họ cho rằng chi phí so với kết quả đem lại còn cao, trong đó họ cho rằng chi phí thường xuyên và chi phí đào tạo đội ngũ kiểm toán nội bộ sẽ cao hơn khả năng của doanh nghiệp do đội ngũ kiểm toán độc lập cần có trình độ học vấn cao, nhiều kinh nghiệm về hoạt động kiểm toán và phải có hiểu biết sâu sắc về các lĩnh vực.

Một trong những yếu tố mà hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát đánh giá cao nhất đó là yêu cầu về tính công khai minh bạch và tuân thủ hành lang pháp lý. Điều này có thể giải thích lý do cho việc nhiều doanh nghiệp thực hiện kiểm toán nội bộ vì lý do bắt buộc.

Đối tượng khảo sát cũng cho rằng để xây dựng đội ngũ kiểm toán nội bộ cần có sự đầu tư về công nghệ, doanh nghiệp phải có nguồn tài chính đảm bảo với đội ngũ nhân sự chất lượng cao và thường xuyên được đào tạo. Để đội ngũ kiểm toán nội bộ hoạt động hiệu quả thì lãnh đạo đơn vị cũng cần am hiểu, quan tâm và giám sát, cùng với hệ thống văn bản hướng dẫn đầy đủ.

Ngoài ra, đối tượng khảo sát cũng phần nào nhận biết được mức độ ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại doanh nghiệp như: bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, thông tin về hoạt động của đơn vị ngày càng được nhiều đối tượng quan tâm, công nghệ thông tin phát triển và đơn vị cần tăng cường bảo vệ giá trị tổ chức, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt,.... Tuy nhiên những tác động đó là chưa đủ mạnh đến mức trở thành động lực để các doanh nghiệp chủ động xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ trong đơn vị.

4. Một số giải pháp để đẩy mạnh việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Trước hết đối với các doanh nghiệp thuộc diện bắt buộc phải thực hiện kiểm toán nội bộ theo Nghị định 05/2019/NĐ-CP, các cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực kiểm toán nội bộ như Bộ tài chính, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Sở tài chính tỉnh Nghệ An,… cần tăng cường kiểm tra đánh giá hiệu quả việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó có biện pháp khắc phục kịp thời những yếu kém, đồng thời có kế hoạch hỗ trợ tư vấn và đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ kiểm toán viên nội bộ để từ đó thúc đẩy chất lượng của hoạt động kiểm toán nội bộ tại đơn vị.

Đối với các doanh nghiệp không thuộc diện bắt buộc phải thực hiện kiểm toán nội bộ, cần có chính sách ưu đãi đối với hoạt động này để doanh nghiệp thấy được lợi ích nổi trội so với chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra như ưu đãi về đầu tư, ưu đãi về điều kiện vay vốn,... Bên cạnh đó, Tỉnh cần tạo nguồn nhân lực kiểm toán đảm bảo chất lượng với chi phí hợp lý để giảm thiểu chi phí thường xuyên và chi phí đào tạo đội ngũ.

Các cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp với các cơ sở giáo dục, các trường đại học trên địa bàn tỉnh Nghệ An có chức năng đào tạo ngành kế toán - kiểm toán như Trường đại học Nghệ An, Trường kinh tế thuộc Đại học Vinh, các tổ chức tư vấn về kiểm toán, các doanh nghiệp kiểm toán, các hiệp hội nghề nghiệp kế toán - kiểm toán trên địa bàn tỉnh để tổ chức các hội thảo, trợ giúp pháp lý, tập huấn nghiệp vụ kiểm toán cho đội ngũ kế toán, kiểm toán viên, kiểm soát viên. Việc kết nối giữa cơ quan quản lý – cơ sở đào tạo – doanh nghiệp sẽ giúp chuyên nghiệp hóa công tác bồi dưỡng, định hướng cho các doanh nghiệp về lĩnh vực kiểm toán nội bộ.  

Việc mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài vào tỉnh Nghệ An cũng là một giải pháp tạo môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp hiện nay, làm cho các doanh nghiệp trong Tỉnh nhận rõ được tầm quan trọng của việc tăng cường bảo vệ giá trị của tổ chức, tăng cường tính minh bạch, nâng cao uy tín và tính chuyên nghiệp của đơn vị trước các đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời học hỏi từ chính các doanh nghiệp đó về cách thức quản lý, về cách xây dựng và vận hành bộ máy quản lý theo mô hình hiện đại. Thay vì chỉ tập trung vào tính tuân thủ thì doanh nghiệp dần mở rộng sang mục tiêu quản trị rủi ro, xây dựng môi trường kiểm soát nội bộ vững mạnh.

5. Kết luận

Quá trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An tuy số lượng doanh nghiệp được khảo sát đủ để đạt độ tin cậy song vẫn còn hạn chế. Câu trả lời thu được chắc chắn chưa bao quát hết các ý kiến của các nhà quản trị về vấn đề này. Tác giả cũng chưa thực hiện khảo sát đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức và cơ quan hữu quan để có các góc nhìn đa chiều hơn, do đó có thể còn chưa có được những nhận định mang tầm vĩ mô và giải pháp cần thiết. Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cũng đã cho thấy rõ sự e ngại của các doanh nghiệp về việc đầu tư vào đội ngũ kiểm toán nội bộ, nhận thức về lợi ích chưa tạo động lực đủ mạnh để có thể chủ động triển khai thực hiện kiểm toán nội bộ tại đơn vị. Đây cũng là lý do để các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Nghệ An tăng cường đào tạo nhân lực về lĩnh vực kiểm toán, góp phần cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao với chi phí sử dụng hợp lý cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

Bài viết là một phần sản phẩm của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường “Nhân tố tác động đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An” do tác giả chủ trì.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Abidin, N. H. Z. (2017). Factors influencing the implementation of risk-based auditing. Asian Review of Accounting

[2] Nghị định số 05/2019/NĐ-CP ban hành ngày 22/01/2019 về kiểm toán nội bộ

[3] Nzechukwu, P. O. (2016). Internal Audit Practice from A to Z. Germany: Auerbach Publications.

[4] Petraşcu, D., & Tieanu, A. (2014). The role of internal audit in fraud prevention and detection. Procedia Economics and Finance

[5] Zaman, M., & Sarens, G. (2013). Informal interactions between audit committees and internal audit functions: Exploratory evidence and directions for future research. Managerial Auditing Journal

 

   


Bài viết khác