Từ rau thủy canh trong nhà màng đến hoa lan cấy mô công nghệ cao..., nông nghiệp TP.HCM đang thay đổi cách sản xuất truyền thống bằng dữ liệu, tự động hóa.
Sau sáp nhập, TP.HCM bước vào giai đoạn phát triển mới với quy mô dân số hơn 14 triệu người và mục tiêu đón khoảng 40 triệu lượt du khách mỗi năm. Áp lực bảo đảm nguồn thực phẩm an toàn, ổn định cho "siêu đô thị" lớn nhất cả nước vì thế ngày càng lớn.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, biến đổi khí hậu, chi phí sản xuất tăng, khoa học công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành chìa khóa giúp nông nghiệp đô thị nâng cao năng suất, tiết kiệm tài nguyên và phát triển bền vững.
Các loại rau ăn lá trồng thủy canh trong nhà màng được người tiêu dùng thành phố ưa chuộng.
Tự động hóa trên từng luống rau
Với định hướng từ Nghị quyết 57-NQ/TW, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu số được kỳ vọng đi sâu vào từng cánh đồng, trang trại, tạo cú hích cho nền nông nghiệp đô thị hiện đại, xanh và bền vững.
Là một trong những mô hình nông nghiệp công nghệ cao tiêu biểu của TP.HCM, HTX Nông nghiệp Tuấn Ngọc (phường Long Trường) hiện phát triển khoảng 7.000m² sản xuất công nghệ cao tại TP.HCM, Đồng Nai, Khánh Hòa và Ninh Thuận. Riêng tại TP.HCM, mô hình được triển khai ở Long Trường, Châu Pha và Củ Chi.
Tại các khu nhà màng, hệ thống cảm biến được vận hành từ sáng sớm. Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và lượng dinh dưỡng trong nước được cập nhật liên tục về điện thoại của người quản lý. Nhiều công đoạn như phun sương, cắt nắng, thông gió hay kiểm soát nhiệt độ đều được tự động hóa thay cho phương thức sản xuất thủ công trước đây.
Ông Lâm Ngọc Tuấn, Giám đốc HTX Nông nghiệp Tuấn Ngọc cho biết, chỉ với 1.000m² rau thủy canh công nghệ cao, sản lượng có thể đạt trung bình 80 - 120kg/ngày, cao gấp khoảng 5 lần so với canh tác truyền thống. Nếu trồng theo phương thức thông thường, để đạt sản lượng tương tự phải cần từ 1 - 2ha đất.
Ứng dụng IoT trong chăm sóc và quản lý quá trình sinh trưởng của cây trồng tại HTX Nông nghiệp Tuấn Ngọc.
Theo ông Tuấn, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong giám sát pH đất, cảm biến môi trường, hệ thống tưới tự động hay số hóa quản lý sản xuất không chỉ giúp nông dân kiểm soát tốt hơn quy trình canh tác, tối ưu chi phí sản xuất, giảm rủi ro, nâng cao năng suất mà còn cắt giảm đáng kể chi phí nhân công. Trước đây, diện tích 1.000m² cần khoảng 3 lao động thường xuyên, nay hệ thống cảm biến và điều khiển tự động đã xử lý phần lớn công việc.
Tuy nhiên, nông nghiệp công nghệ cao vẫn đối mặt nhiều thách thức. Ngoài áp lực vốn đầu tư, mô hình này còn đòi hỏi đội ngũ kỹ thuật có chuyên môn để vận hành hệ thống cảm biến, tưới tự động và quản trị quy trình sản xuất. Trong khi đó, đầu ra sản phẩm cũng tiềm ẩn rủi ro khi giá thành cao, chủ yếu phục vụ nhóm khách hàng trung và cao cấp.
Ông Tuấn cho rằng, khó khăn lớn hiện nay là chính sách đất đai chưa thực sự phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại đô thị.
Để giúp nông dân tiếp cận công nghệ cao, HTX sẵn sàng chuyển giao mô hình, ưu tiên đào tạo, thực hành trực tiếp tại mô hình sản xuất thay vì nặng về lý thuyết, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật tận nơi và hướng dẫn sử dụng các ứng dụng số để quản lý sản xuất ngay trên điện thoại di động. Ngoài ra, HTX còn hỗ trợ một phần chi phí đầu tư ban đầu như vật tư, con giống, dinh dưỡng nhằm giảm áp lực tài chính cho nông dân khi chuyển đổi sang mô hình sản xuất công nghệ cao.
Ông Nguyễn Hùng Cường (trái), Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Hưng Long tham quan mô hình vườn rau thủy canh Plong Green Organic Farm.
Làm nông bằng công nghệ
Tại xã Hưng Long, Công ty cổ phần đầu tư Mỹ Nga vừa đưa vào hoạt động vườn rau thủy canh Plong Green Organic Farm trên diện tích 2.000m². Toàn bộ quy trình từ cấp nước, bổ sung dinh dưỡng đến kiểm soát nhiệt độ đều được vận hành tự động, giúp cây phát triển đồng đều và hạn chế sâu bệnh.
Theo ông Ngô Thanh Huy, quản lý Plong Green Organic Farm, để thích ứng với khí hậu nóng ở khu vực phía Nam, đơn vị đã đầu tư đồng bộ nhà màng, quạt thông gió, hệ thống phun sương và màn che nắng nhằm kiểm soát nhiệt độ cho cây trồng.
Nhờ ứng dụng công nghệ, hiện mỗi ngày trang trại cung ứng ra thị trường khoảng 200 - 250kg rau sạch, khi vận hành ổn định có thể đạt 500 - 600kg/ngày.
Không chỉ nâng cao năng suất, mô hình còn giúp tiết kiệm nước, giảm nhân công và tạo ra nông sản minh bạch, dễ truy xuất nguồn gốc. Hiện Plong Green Organic Farm đang hoàn thiện bao bì, mã QR để đưa sản phẩm vào siêu thị, trường học và các kênh tiêu thụ lớn.
Ông Nguyễn Hùng Cường, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Hưng Long cho biết, nhiều hộ dân trên địa bàn đã ứng dụng hệ thống tưới tự động, cảm biến, hẹn giờ và cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp.
Địa phương cũng thúc đẩy các mô hình rau thủy canh, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP nhằm nâng cao giá trị nông sản. Đồng thời mời các TikToker hướng dẫn nông dân livestream bán hàng, đưa nông sản lên sàn thương mại điện tử để giảm phụ thuộc vào thương lái, chủ động đầu ra.
Mục tiêu của bà Liêu Thị Kim Phượng là chuyển giao công nghệ nhân giống cấy mô và kỹ thuật lai tạo cho các hộ dân và lao động địa phương.
Trong lĩnh vực hoa lan, bà Liêu Thị Kim Phượng, Giám đốc HTX Nông nghiệp Vườn Lan Việt (phường Long Trường) cho biết, đơn vị đang từng bước làm chủ nguồn giống hoa lan Dendrobium bằng công nghệ cấy mô và lai tạo trong phòng thí nghiệm mini.
Thay vì phụ thuộc vào giống nhập khẩu, HTX chủ động nghiên cứu, chọn lọc và nhân giống các dòng lan có màu sắc phù hợp với xu hướng thị trường như vàng, đỏ phong thủy hay các dòng đột biến “lá xẹt” phục vụ giới sưu tầm.
Theo bà Phượng, mô hình “mini-lab” chỉ cần diện tích khoảng 10m² nhưng vẫn có thể tạo ra số lượng lớn cây giống sạch bệnh, đồng đều, giúp giảm chi phí đầu vào và tăng tính chủ động cho nhà vườn.
Việc làm chủ công nghệ cây mô không chỉ nâng cao giá trị hoa lan mà còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với mô hình sản xuất quy mô nhỏ tại đô thị.
Liên quan đến chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo Nghị quyết 57-NQ/TW, ông Lâm Ngọc Tuấn, Giám đốc HTX Nông nghiệp Tuấn Ngọc đánh giá, đây là chủ trương tích cực nhưng cần cụ thể hơn về đối tượng và cơ chế hỗ trợ để nguồn lực đi đúng địa chỉ. Trong đó, cần ưu tiên hỗ trợ các HTX, đơn vị tiên phong để họ tiếp tục dẫn dắt, hỗ trợ lại cho nông dân. Như vậy hiệu quả sẽ thiết thực hơn.
Theo báo Nông nghiệp và môi trường